Chuyển đến nội dung chính

Hoa sen từ bùn dơ

Một chàng thanh niên thuộc giai cấp nô lệ hạ tiện, là giai cấp thấp nhất ở Ấn Độ, đang gánh phân đi trên con đường làng. Hôm đó đức Phật theo thứ lớp đi khất thực không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, Ngài bình đẳng đi hết xóm này đến làng khác và tình cờ gặp chàng gánh phân. Vì quá sợ sệt nên anh ta né qua đường khác nhưng trong lòng vẫn ao ước và tiếc nuối “biết đến bao giờ mình mới được như các Ngài”. Đang trong vòng suy nghĩ miên man, anh khựng hẳn người bởi trước mặt anh là một bóng hình từ ái, trang nghiêm với ánh hào quang rực rỡ. Anh hoảng hốt định quay đầu bỏ đi vì sợ bị bắt nhưng Phật từ bi cất tiếng, “này chàng trai trẻ, Như Lai đang tìm đến con đây!” Giọng nói ngọt ngào và êm ái của Người đã làm anh bừng tỉnh, anh bất giác bỏ đôi gánh xuống, quỳ lạy thưa rằng, “dạ kính bạch Ngài, con không dám thân cận quý Ngài vì con sợ làm ô uế dòng dõi tôn quý, xin Ngài đừng đến gần con”. Đức Phật nở một nụ cười chan chứa tình thương và ôn tồn nói, “này chàng trai trẻ, không ai có quyền bắt tội con đâu, con hãy yên tâm, chính Như Lai đang tìm đến con. Như lai bây giờ không còn là hoàng thái tử trong giai cấp vua chúa nắm quyền thống trị như ngày xưa, Như Lai muốn chia sẻ với con một chút tâm tình có được chăng?” “Nhưng con là hạng người cùng đinh thuộc giai cấp nô lệ, Ngài không sợ bị nhiễm bẩn hay sao?” “Giáo pháp của Như Lai không phân biệt giai cấp vì mọi người đều máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn.” “Dạ kính bạch Thế Tôn, chính các giáo sĩ Bà la môn thường nói chỉ có giai cấp của họ và các bậc vua quan mới là tôn quý, xứng đáng được ăn trên ngồi trước, thờ cúng đấng Phạm Thiên. Chúng con là giai cấp nô lệ hạ tiện, chỉ biết phục dịch một cách vô điều kiện cho họ mà thôi.” “Chính vì vậy mà ta phải bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, con thơ để ra đi tìm chân lý sống cho kiếp người. Nay ta đã biết rõ sự thật, không có một đấng quyền năng nào ban phước giáng họa cho ai cả, Như Lai xác quyết và bảo đảm với con điều đó. Giờ thì con có muốn sống một đời sống mới, bình an và hạnh phúc hay không?” “Điều này xưa nay con hằng mong muốn, nếu được Như Lai cứu độ thì còn gì hạnh phúc cho bằng”. Thế là đức Phật nắm tay chàng trai trẻ ra bờ sông tắm rửa sạch sẽ và dẫn chàng về tịnh xá Kỳ Viên. Sau một thời gian xuất gia làm Tỳ kheo, vì siêng năng tinh tấn tu hành mà chàng đã chứng quả A la hán với lực dụng không thể nghĩ bàn.

Vua Ba tư nặc bấy lâu nghe nói giáo đoàn đức Phật toàn thế phát cho hạng cùng đinh thấp kém nên rất bực tức, bất bình với Phật. Nay ông lại nghe Phật vừa độ tên hạ tiện Ni đề nên thấy không còn tôn ti trật tự trong hệ thống phân chia giai cấp, ông bèn cùng đám tùy tùng đi đến tịnh xá để khuyên Người không nên tiếp tục độ kẻ cùng đinh. Vừa đến cổng tịnh xá, mọi người nhìn thấy một vị Tỳ kheo đang ngồi trên tảng đá lớn với dáng vẻ trang nghiêm, đường bệ. Vua liền nhờ thầy vào trình đức Phật có vua Ba tư nặc đến thăm. Sau khi nhận lời, vị Tỳ kheo biến mình qua tảng đá lớn và mất dạng, sau ngài cũng từ tảng đá ấy hiện hình trở lại làm cho vua và các quan cận thần nể sợ. Vị Tỳ kheo nói, “đức Thế Tôn đã hứa khả, xin mời đức vua và các quan tùy tùng vào”. Sau khi đảnh lễ đức Phật, vua Ba tư nặc ngồi sang một bên thưa rằng, “kính bạch đức Thế Tôn, vị Tỳ kheo vừa vào yết kiến ngài là ai mà có sức thần thông quảng đại, vị ấy xuyên qua tảng đá lớn một cách nhẹ nhàng như trò ảo thuật. Con muốn đảnh lễ và cúng dường vị Tỳ kheo ấy có được chăng?” “Nhưng mục đích đại vương đến đây để làm gì?” “Dạ, con muốn giáo đoàn của Ngài không nên thế phát và xuất gia cho những người thuộc giai cấp cùng đinh hạ tiện, vì như vậy sẽ làm ô uế dòng dõi tôn quý của chúng con.” “Này đại vương, nếu những người đó được xuất gia làm Tỳ kheo và vẫn giác ngộ, giải thoát, tu tập chứng quả Thánh thì bệ hạ tính sao?” “Con nghĩ chuyện đó không thể có được!” “Đại vương có tin lời ta nói không?” “Dạ, con tin.” “Vị Tỳ kheo có sức thần thông tự tại ngài gặp ngoài cổng chính là Ni đề, người gánh phân thành Xá vệ thuộc giai cấp nô lệ phục dịch, người mà Ta đã xuất gia hơn một tháng nay.” “Nếu quả thật như thế con xin phát tâm cúng dường Tứ sự cho vị Tỳ kheo ấy”.

Vua Ba tư nặc đến gặp Phật mục đích chính là không chấp nhận cho những người giai cấp hạ tiện, nô lệ vào Tăng đoàn tu tập, vì ngài nghĩ những người thuộc dòng dõi Bà la môn tôn quý xuất gia vô số còn không chứng quả, huống hồ là những con người hạ tiện, bần cùng này. “Này đại vương, giáo pháp của Ta vốn bình đẳng về sự giác ngộ và si mê, nếu ai chịu khó siêng năng tu tập và thực hành đúng theo Chánh pháp thì đều có khả năng chứng ngộ. Đại vương nên biết, từ bùn lầy hoa sen vươn lên và nở hoa thơm ngát, cũng vậy, ai cũng có khả năng giác ngộ giải thoát như nhau.” “Vậy mà xưa nay con cứ nghĩ chỉ có những người thuộc giai cấp tôn quý mới tu hành chứng được Thánh quả, vì con thường nghe những vị Bà la môn nói như thế. Nay nếu không nhờ Thế Tôn chỉ dạy và thấy rõ ràng sự thật kiếp người thì con chỉ biết đấng Phạm Thiên sanh ra họ là để phục vụ cho giai cấp tôn quý chúng con”.

Xã hội Ấn Độ trước khi đạo Phật ra đời đã có truyền thống giai cấp thống trị có quyền bóc lột giai cấp cùng đinh do đấng Phạm Thiên làm chủ tể. Đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ đã tìm ra chân lý cho con người, Ngài thấy được tất cả chúng sinh đều có đức tánh sáng suốt có thể giác ngộ. Mọi người sinh ra vốn bình đẳng như nhau giữa sự si mê và giác ngộ; dù là giai cấp Bà la môn hay Thủ đà la thì khi gieo quả xấu ác ắt phải chịu quả khổ đau. Ai gieo trồng phước đức thì được hưởng quả lành, hạnh phúc hay đau khổ đều do mình tạo lấy. Tôn quý hay cùng đinh là do hành động của mỗi người trong hiện tại. Chính sự ra đời của đạo Phật đã mang lại bình đẳng cho con người.

Hạng người từ tối vào sáng là hạng người đã nhận diện được lỗi lầm, từ đó cố gắng, can đảm, quyết tâm làm lại cuộc đời để vươn lên vượt qua số phận bất hạnh; như vậy, giàu hay nghèo không quan trọng, quan trọng hơn hết là mọi người phải có tấm lòng và tình yêu thương chân thật.

Nếu có người bần cùng
Biết tin sâu nhân quả
Ít nóng giận, buồn phiền
Thường xuyên biết hổ thẹn
Hay cúng dường giúp đỡ
Người tu hành chân chánh
Biết khiêm tốn học hỏi
Những điều hay lẽ phải
Luôn khuyên người bố thí
Khuyến khích và khen ngợi
Người cho lẫn người nhận
Người tu phước như thế
Từ đây đến đời sau
Luôn sanh các cõi lành
Đời đời hưởng phước báo
Từ tối vào nơi sáng
Là hạng người đáng kính.

Thích Đạt Ma Phổ Giác
Nguồn: Hoavouu.com

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

12 nỗi khổ của con người

1. Kiếm miếng cơm, manh áo là khổ. (Để có được miếng ăn thì phải lao tâm khổ tứ lao động vất vả, suy tính đủ thứ, sẵn sàng hại mình, hại người, hại chúng sanh để có cái ăn.) 2. Già là khổ. (Già thì mắt yếu, tai mờ, đi đứng khó khăn, đau nhức khắp cơ thể, bệnh tật...) 3. Bệnh là khổ. (Bệnh thì cảm thọ đau nhức, mất ăn, mất ngủ, tốn hao thuốc men ...) 4. Chết là khổ. (Trước khi chết thì vật vã đau đớn, khổ đau vô cùng, lo lắng không biết đi về đâu, bỏ lại gia đình, người thân, bè bạn ...) 5. Tham là khổ. (Vì tham mà ta mưu tính đủ điều, miễn sao thỏa mãn lòng tham là được, chẳng tiếc thương thân tâm phải chịu khổ vì tham.) 6. Sân hận là khổ. (Khi sân thì bất kể trời đất, sẵn sàng ăn thua đủ, bất kể mạng sống của mình và của người.) 7. Si mê là khổ. (Khi si mê rồi thì bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ vợ, bỏ chồng, bỏ con, bỏ luân thường đạo lý, bỏ cả thân mạng, như người mê, mất cả lí trí.) 8. Ngã mạn là khổ. (Vì vô minh lầm chấp mà nhận lầm thân tâm này là ta, là của ta, là bản ngã của ta.) 9. ...

Tạo nước từ sương mù ở vùng khô hạn

Những tấm lưới đơn giản được thiết kế để thu hoạch nước từ sương mù tại những vùng đất khô cằn đã giúp giải quyết được tình trạng khan hiếm nước cho dân địa phương và góp phần thay đổi môi trường sống, tạo lương thực, thực phẩm, sinh kế, giúp người dân thoát đói nghèo. Nguồn video: BBC news

Khiêm hạ

Cụ Phan Thanh Giản có một người bạn thân, quen biết từ khi còn đi học. Bạn cụ học giỏi mà nhà nghèo, không thi cử, chỉ lấy việc ruộng nương làm kế sinh nhai. Cụ Phan như ta biết, theo con đường hoan lộ. Khi đi kinh lý đất Nam Kỳ, có dịp, cụ ghé thăm người bạn cũ. Một viên kinh lược đến đâu, cố nhiên là có quân lính tiền hô hậu ủng. Nhưng lúc tìm thăm bạn, cụ Phan có nhã ý, tránh nhắc nhở trước người bạn áo vải về cái quyền tước cao sang hiện thời của mình. Cụ cho quân lính dừ ng lại cách xa nhà bạn có trên mấy dặm, rồi mặc áo thâm, bịt khăn đóng, lững thững một mình tiến vào căn nhà lá lụp xụp.  Khi cụ đến nhà, ông bạn mắc đi làm ngoài ruộng, không hay cụ đến. Cụ lên võng nằm chờ cho đến tối, ông bạn mới về. Gặp nhau mừng rỡ, bạn ông lật đật dọn cơm, trên mâm chỉ có một dĩa rau luộc và một dĩa mắm kho. Cụ cùng bạn ngồi ăn ngon lành, vui vẻ như khi còn áo vải... Người xưa, cách xử thế thật khôn ngoan vô cùng, mà cũng nhân hậu vô cùng.    ( Trích Thuật xử thế của...